Bức Ảnh Cuối Cùng Đã Tháo Xuống
Chương 8
Mực bút máy xanh đen.
Nét chữ của tôi và Hứa Tri Hành chồng lên nhau.
Những dòng chữ lớn hơn, nguệch ngoạc hơn là của anh ta.
Những dòng nhỏ hơn, mảnh mai hơn là của tôi.
Có vài câu đã bị nhòe theo năm tháng.
Mực thấm vào tường, loang ra như một vùng biển đã phai màu.
Dòng trên cùng là do tôi viết:
“Giao ước mười năm, năm thứ nhất. Chúng ta phải có một mái nhà.”
Ngay bên dưới là dòng Hứa Tri Hành viết thêm:
“Trong ngôi nhà này, không được cãi nhau rồi để qua đêm.”
Xuống dưới nữa là những lời hứa năm ấy hai chúng tôi đã nắn nót viết từng nét một.
Khi ấy còn cố tình bắt chước nét chữ non nớt của trẻ con, hí hoáy viết kín lên tường:
“Ai cũng không được giận dỗi bỏ nhà đi giữa đêm.”
“Mỗi năm vào ngày sinh nhật đều phải chụp một bức ảnh chung.”
“Chúng ta có một con rùa tên Thạch Đầu, phải nuôi nó thật lâu, thật lâu.”
“Không được hút thuốc trong phòng khách.”
“Trong tủ lạnh lúc nào cũng phải có Coca lạnh.”
“Nếu một ngày ai hết yêu trước, phải thành thật nói ra.”
Bên dưới dòng cuối cùng, Hứa Tri Hành còn tự tay kẻ một đường ngang.
Sau đó viết thêm:
“Nếu ai vi phạm những lời đã hứa, phạt người đó phải tự tay bóc hết giấy dán tường xuống.”
“Không được để sót dù chỉ một góc.”
Tôi ngồi xổm bên bức tường.
Trong tay vẫn cầm con dao rọc giấy.
Lặng lẽ nhìn những lời hứa trên đó.
Tôi nhìn rất lâu.
Rất lâu.
Sau đó, tôi bắt đầu bóc giấy dán tường.
Không dùng dao.
Tôi chỉ dùng đầu ngón tay móc vào phần mép giấy đang bong lên, rồi chậm rãi kéo nó ra khỏi bức tường.
“Xoẹt…”
Cuộn giấy dán tường phát ra những tiếng xé rất khẽ.
Bụi bặm theo đó rơi xuống lả tả.
Tôi bóc rất chậm.
Giống như đang từ từ mở ra một phong thư khổng lồ đã bị niêm phong suốt nhiều năm.
Cả tấm giấy dán tường men theo đúng hướng mà mười năm trước chúng tôi đã tự tay dán lên.
Từng chút một.
Từng chút một.
Cuối cùng được bóc xuống hoàn chỉnh, sạch sẽ.
Không sót lại một góc.
Phía sau nó là cả một bức tường xám trắng, trống trơn, lạnh lẽo.
Ngay chính giữa bức tường vẫn còn hai mươi vết lõm nông do những chiếc đinh không dấu để lại.
Tôi gấp đôi tấm giấy dán tường, cuộn nó thành một ống tròn.
Sau đó tháo sợi dây buộc tóc cũ của mình xuống, buộc chặt cuộn giấy lại.
Tôi ôm cuộn giấy dán tường ấy đi vào phòng làm việc.
Trên bàn vẫn còn chiếc ống đựng bản vẽ Hứa Tri Hành để lại.
Tôi cầm nó lên.
Mở nắp.
Rồi nhét cuộn giấy dán tường của mình vào bên trong.
Vừa khít.
Không thừa một phân.
Không thiếu một tấc.
Tôi đặt ống đựng bản vẽ trở lại vị trí cũ, dựng nó ngay ngắn ở góc tường.
Sau đó lấy điện thoại ra, chụp một bức ảnh.
Ra đến huyền quan, tôi thay giày, kéo theo chiếc vali nhỏ, đứng trước cửa rồi quay đầu nhìn lại lần cuối.
Căn nhà trống không.
Bức tường trống không.
Chỉ còn chiếc ống đựng bản vẽ lặng lẽ dựng ở góc tường.
Tôi đóng cửa, rút chìa khóa ra, đặt bên dưới tấm thảm trước cửa.
Sau đó lại chụp một bức ảnh, gửi cho Hứa Tri Hành.
Kèm theo một dòng tin nhắn:
“Tôi đã chuyển hết đồ khỏi nhà rồi. Chìa khóa ở dưới tấm thảm. Hồ sơ phê duyệt tôi để trên bàn của anh. Tiền điện, nước, gas đều đã thanh toán hết. Thứ trên bức tường đó, tôi để trong ống đựng bản vẽ của anh. Bảo trọng.”
Tin nhắn gửi đi.
Tôi cất điện thoại, kéo vali xuống lầu.
Hai giờ chiều.
Ánh nắng chiếu vào khu chung cư.
Tôi đi đến bên hồ cảnh quan, đứng lại một lúc.
Lớp băng trên mặt hồ đã tan từ lâu.
Những cành liễu bên bờ cũng đã nhú lên chồi non.
Tôi nhìn cây liễu ấy một lúc, sau đó lấy điện thoại ra gọi xe cho mình.
Lên xe, tôi đọc địa chỉ.
Tài xế nhìn tôi qua gương chiếu hậu.
“Chuyển nhà à?”
“Vâng.”
Tôi tựa đầu vào cửa kính.
“Chuyển xong rồi.”
Sáu giờ tối, Hứa Tri Hành trở về khu chung cư.
Mấy ngày nay anh ta bận tối mắt tối mũi với dự án Tân Giang.
Tổng giám đốc Kiều vừa chốt phương án thiết kế triển khai lần hai, tối nào anh ta cũng phải ở công trường đối chiếu bản vẽ.
Hôm nay hiếm hoi mới được về sớm, anh ta định quay về lấy vài bộ quần áo để thay.
Chìa khóa vẫn còn trong túi.
Theo thói quen, anh ta lấy ra, đi đến trước cửa, cắm chìa vào ổ khóa rồi xoay một cái.
Cửa mở.
Đèn phòng khách vẫn sáng.
Nhưng bên trong đã trống không.
Hứa Tri Hành đứng ở huyền quan.
Sau đó từng bước, từng bước đi vào.
Phòng khách không còn sofa.
Không còn bàn trà.
Không còn tivi.
Mặt bàn trong bếp sạch bong.
Những vết dầu mỡ trên bếp cũng đã được lau sạch.
Cửa tủ lạnh mở hé.
Bên trong chẳng còn thứ gì.
Anh ta đi đến cửa phòng ngủ.
Giường không còn.
Tủ quần áo không còn.
Tủ đầu giường cũng không còn.
Ngay cả rèm cửa cũng đã được tháo xuống, chỉ còn khung cửa sổ trơ trọi để ánh chiều tà hắt thẳng vào căn phòng.
Anh ta lại đi đến phòng làm việc.
Giá sách trống không.
Mặt bàn trống không.
Chỉ có chiếc ống đựng bản vẽ vẫn dựng nguyên ở góc tường.
Hứa Tri Hành cúi xuống, đưa tay mở nắp ống.
Bên trong không có bản vẽ nào được cuộn lại.
Chỉ có một cuộn giấy màu xanh xám được nhét vào đó.
Anh ta rút ra.
Từ từ mở nó ra.
Cả một mảng giấy dán tường hoàn chỉnh trải rộng trước mắt anh ta.
Trải qua mười năm, những nét mực xanh đen trên đó đã hơi ngả màu.
Chỉ cần nhìn một cái, Hứa Tri Hành đã nhận ra nét chữ của mình và tôi.
Những nét chữ lớn, nguệch ngoạc, như muốn giương nanh múa vuốt là của anh ta.
Những nét chữ thanh mảnh, ngay ngắn, chi chít là của tôi.
Ánh mắt anh ta chậm rãi lướt qua từng dòng chữ.
Cuối cùng, đầu ngón tay dừng lại trên một câu:
“Chúng ta có một con rùa tên Thạch Đầu, phải nuôi nó thật lâu, thật lâu.”
Sau đó, anh ta nhìn thấy đường kẻ mình từng vẽ ở dòng cuối cùng.